Tại sao tôi không tin trẻ có thể tự khóc tự ngủ!
Written by admin on December 27, 2017
One year old baby lying in bed with alarm clock and crying

“Có người nói rằng cháu quá yếu đuối nên không thể để cho con tự khóc để ngủ”, Rachel Maté, cô cháu gái của tôi tâm sự. Rachel có hai con nhỏ và đồng thời là luật sư đang sinh sống ở Vancouver.

“Họ cho rằng cháu đang để những đứa trẻ điều khiển cuộc đời mình. Nhưng việc để cho con tự ngủ mà không vỗ về, dỗ dành khiến trái tim cháu xót xa muốn vỡ vụn”, Rachel buồn bã than thở.

Phương pháp Ferberization (Để trẻ tự khóc tự ngủ) được đặt theo tên của tiến sỹ Richard Ferber – một chuyên gia về giấc ngủ của trẻ, được chia sẻ trong một bài viết vào năm 2006 về chuyện bố mẹ để cho trẻ ngủ chung giường. Theo đó phương pháp Ferberization là quá trình rèn luyện trẻ tự ngủ, để kệ trẻ trẻ khóc.

Là một bác sỹ, tôi đã từng ủng hộ phương pháp tự khóc tự ngủ, và tôi cũng đã từng áp dụng với chính những đứa con của mình. Nhưng, sau đó tôi nhận ra rằng phương pháp này có hại có sự phát triển của những đứa trẻ, thậm chí nó còn ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của trẻ về lâu dài.

Phương pháp Ferberization có vẻ đơn giản: “Sau khoảng một tuần trẻ sẽ học được rằng việc khóc không hề nhận được sự quan tâm nào của bố mẹ, ngoài việc bố mẹ sẽ đứng nhìn chúng từ xa. Dần dần trẻ sẽ không cố gắng nữa và học cách tự ngủ mà không cần sự giúp đỡ”, theo bác sỹ Ferber khuyên.

Câu hỏi đưa ra là trẻ sẽ học được  những gì khi bị đối xử như vậy và những tác động của việc này như thế nào?

Con người không có khả năng ghi nhớ những gì họ đã học được trong một năm đầu đời, bởi vì khi đó phần lưu giữ bộ nhớ lặp lại của não bộ chưa thực sự phát triển. Nhưng các nghiên cứu về thần kinh học đã xác định được con người có hệ thống bộ nhớ mạnh mẽ hơn, ghi dấu ấn rõ hơn trong hệ thống thần kinh có tên gọi là “Bộ nhớ trong”. Bộ nhớ trong sẽ mã hóa khía cạnh tình cảm từ những năm đầu đời, chủ yếu tập trung ở thùy trước trán của bộ não. Do đó, những kí ức cảm xúc ngày thơ bé có thể kéo dài suốt đời.

Nếu không có sự thay đổi nào đối với những sự kiện đã được mã hóa, những sự kiện này sẽ trở thành kiểu mẫu – hay nói cách khác, chúng hình thành cách chúng ta cảm nhận thế giới và cách làm thế nào để phản ứng với những lần tiếp theo.

gpointstudio_0

Thế giới này là một nơi thân thiện và nuôi dưỡng con người hay là một nơi dửng dưng, thậm chí là một thế giới thù địch? Chúng ta có thể tin tưởng người khác để nhận biết, hiểu và tôn trọng những nhu cầu của chúng ta hay chúng ta phải tự đóng cửa cảm xúc của chính mình để bảo vệ mình khỏi sự tổn thương? Đây là những câu hỏi cơ bản mà chúng ta phải giải quyết phần lớn bằng hệ thống bộ nhớ tiềm ẩn chứ không phải bằng tâm trí có ý thức. Như nhà tâm lý và nghiên cứu về bộ nhớ hàng đầu Daniel Schacter đã viết trong nghiên cứu của mình, bộ nhớ bên trong hoạt động khi con người đang chịu ảnh hưởng của những vấn đề trong quá khứ mà không cần đến bất kì nhận thức nào lúc họ đang nhớ lại.

Thông điệp mà một đứa trẻ sơ sinh nhận được khi kêu khóc mà không được chú ý là “thế giới”  – mà đại diện chính là những người chăm sóc trẻ đang không quan tâm đến cảm xúc của mình. Điều này không phải là điều mà các bố mẹ yêu thương con cái có ý định làm.

Thật không may, trẻ sẽ không thể hiểu được ý định của bố mẹ và tích hợp này trong thế giới của mình, trẻ sẽ hiểu đó là những gì bố mẹ đang đáp ứng mình.

Đây là lý do, nếu tôi được làm lại khoảng thời gian tôi làm bố mẹ lúc con nhỏ, tôi sẽ làm theo một cách khác.

Khi trẻ có thể ngủ thiếp đi sau một thời gian khóc, thất vọng và không được giúp đỡ thì đó không phải là cách mà trẻ đã học được những “ kỹ năng” tự ngủ. Điều đó có nghĩa là bộ não của trẻ đã cố gắng thoát khỏi nỗi đau bị bỏ rơi và dừng lại. Đây là một cơ chế thần kinh tự động. Thực tế, là trẻ tự bỏ việc khóc. Mục tiêu ngắn hạn của những ông bố bà mẹ đã kiệt sức vì cho con ngủ đã đạt được nhưng việc này lại làm tổn thương lâu dài đến tình cảm của trẻ. Việc này nghiễm nhiên được mã hóa trong vỏ não của trẻ với ý nghĩa là rằng trẻ không được chăm sóc.

how-to-get-baby-sleep-through-the-night

Các ý niệm rằng trẻ nên tự khóc rồi tự ngủ thật ra lại xuất hiện từ rất lâu trước cả công bố của Tiến sỹ Ferber vào năm 1985 (với cuốn sách bán chạy nhất năm có tên Solve Your Child’s Sleep Problem (Giải quyết các vấn đề về giấc ngủ của trẻ). Trước đó 40 năm, Tiến sỹ Benjamin Spock đã đề xuất cách tiếp cận tương tự  trong cuốn sách của ông có tên là Baby and Child Care (Trẻ sơ sinh và chăm sóc trẻ). Trong đó Spock cho rằng trẻ có một vấn đề là “thường xuyên chống cự  lại việc đi ngủ” và cách đơn giản để cải thiện các trẻ này là “nói chúc con ngủ ngon một cách trìu mến và chắc chắn sau đó bước ra khỏi phòng và không quay trở lại”.

Điều đáng nói là tiến sỹ Spock là một một trong những người tiên phong trong việc nuôi dạy con nhân đạo và yêu thương. Những lời khuyên của ông đã từng bác bỏ mọi thông lệ hà khắc đang thịnh hành trong thế giới của ông lúc bấy giờ. Quan điểm của ông đã từng rất rõ ràng rằng: thứ duy nhất cha mẹ nên tin tưởng và tìm đến, không phải là chuyên gia nào, mà chính là bản năng và linh cảm trong trái tim mình. Tuy nhiên, riêng về vấn đề giấc ngủ của trẻ thì tiến sỹ Spock có vẻ lại đi ngược lại triết lý của chính ông.

Monica Moster đang làm bà ngoại ở tuổi 80, bà có tất cả 7 đứa cháu. Bà đã nghĩ về khoảng thời gian bà theo phương pháp này trong việc nuôi dạy những đứa trẻ của mình. “Đó là sự tra tấn đối với tôi. Dường như việc đó đi ngược lại với tất cả những cảm xúc của người mẹ trong tôi”.

Rachel Maté cho biết thậm chí một số bạn bè của cô những người tin vào phương pháp tự khóc tự ngủ đã thực sự có những khoảng thời gian cực kì kinh khủng. “Tôi đã từng biết có những người mẹ đã phải đứng dưới vòi hoa sen, lấy hai tay bịt lấy tai chỉ để không phải nghe thấy tiếng con khóc. Đó thực sự là một sự chấn thương không chỉ với những đứa trẻ mà với cả những bà mẹ”.

Trong xã hội nhiều áp lực của chúng ta, thời gian khá quan trọng. Để giải quyết những công việc của cuộc sống, chúng ta đang cố gắng bắt trẻ thích nghi với nhu cầu của chúng ta hơn là cố gắng để phục vụ trẻ. Những thổ dân nguyên thủy ở vùng châu Phi, Bắc và Nam Mỹ để cho trẻ ở bên cạnh mình cả ngày. Họ thậm chí còn không học cách ngăn chặn bản năng làm cha mẹ của mình.

Trẻ khóc đòi bố mẹ không phải thể hiện sự chống đối, trẻ chỉ muốn thể hiện nhu cầu sâu xa nhất của mình là được gắn kết về cả cảm xúc và cơ thể với bố mẹ. Sự phớt lờ của bố mẹ trong phương pháp tự khóc tự ngủ là cách mà xã hội chúng ta đánh mất nhu cầu phát triển tự nhiên của trẻ.

  • Bài viết của Bác sĩ Gabor Mate – đồng tác giả của cuốn sách Hold On To Your Kids: Why Parents Need to Matter More Than Peers.

Gia Hân/ Theo theglobeandmail

Facebook Comments

Tag